Categories: Bệnh lý
      Date: 07 / 01 / 2014 - 08:58:58
     Title: Tác dụng phụ của thuốc hạ huyết áp  nhóm ức chế men chuyển
Theo Y vǎn thế giới thì tác dụng phụ của các thuốc ức chế men chuyển không nặng nề. Tuy nhiên tỷ lệ người phải ngừng thuốc do tác dụng phụ còn phụ thuộc vào tuổi tác, loại thuốc và liều lượng thuốc.

Nhóm thuốc ức chế men chuyển gồm có captopril, enalapril, benazepril, lisinopril, perindopril, quinepril, tradola-pril...

Cơ chế của thuốc là ức chế một enzym có tên là men chuyển angiotensin (angiotensin converting enzym, viết tắt ACE) bằng cách gắn ion kẽm (Zn) của men chuyển vào các gốc của ức chế men chuyển. Nhờ men chuyển angiotensin xúc tác mà chất sinh học angiotensin I biến thành angiotensin II và chính chất này gây co thắt mạch làm THA. Nếu men chuyển ACE bị thuốc ức chế (làm cho không hoạt động) sẽ không sinh ra angiotensin II, gây ra hiện tượng giãn mạch và làm hạ huyết áp. Thuốc hữu hiệu trong 60% trường hợp khi dùng đơn độc (tức không kết hợp với thuốc khác). Là thuốc được chọn khi bệnh nhân bị kèm hen suyễn (chống chỉ định với chẹn beta), đái tháo đường (lợi tiểu, chẹn beta).

Nhiều công trình nghiên cứu chứng minh được tác dụng có lợi của nhóm thuốc ức chế men chuyển angiotensin (ABCD trial; CAPPP; FACET): giảm nhồi máu cơ tim 63%, giảm tử vong do mọi nguyên nhân 62%. Thuốc còn có ưu điểm không gây rối loạn mỡ máu, đường máu, acid uric khi dùng kéo dài.

Theo Y vǎn thế giới thì tác dụng phụ của các thuốc ức chế men chuyển không nặng nề. Tuy nhiên tỷ lệ người phải ngừng thuốc do tác dụng phụ còn phụ thuộc vào tuổi tác, loại thuốc và liều lượng thuốc. Theo Fessinaut, Berrut và cộng sự (1993) nghiên cứu sử dụng Perindopril trên 23.400 người tǎng HA mức độ nhẹ và vừa thì thấy do tác dụng phụ phải ngưng thuốc trên người lớn tuổi có tỷ lệ là 6,1% so với 4,2% ở người dưới 69 tuổi, trong đó tỷ lệ do ho khan chiếm tỷ lệ 2,6%.

Ngoài ra, ho khan cũng là tác dụng phụ chủ yếu gây khó chịu cho bệnh nhân. Ngay những ngày đầu của tuần thứ 1 ho khan xuất hiện ở 10/30 người (chiếm 1/3 số người được theo dõi). Tuy nhiên ở các tuần lễ sau con số này giảm dần và tần số ho cũng giảm do đó bệnh nhân chịu đựng được và tiếp tục dùng thuốc. ở 3 bệnh nhân dùng Coversyl liều cao hơn (8mg/ngày) thì ho cũng nhiều hơn, do đó chúng tôi phải giảm liều cho 2 người xuống 4mg/ngày và kết hợp với 1 viên Hypothiazide 25mg để duy trì HA ổn định. Trong trường hợp thứ 3 còn lại tuy có ho nhiều nhưng ngẫu nhiên bệnh nhân bị đau khớp phải dùng kháng viêm Non-Steroid và ho bớt hẳn (có lẽ do cơ chế đối kháng Prostaglandine của thuốc), bệnh nhân tiếp tục dùng thuốc cho hết thời gian 4 tuần. Các tác dụng khác như hạ HA quá mức, mệt mỏi, choáng váng... không gặp trong lô nghiên cứu của chúng tôi.

Kết luận

1. Coversyl dùng với liều 4mg/ngày có tác dụng hạ HA khá tốt và duy trì được HA ổn định suốt trong 4 tuần điều trị cho các bệnh nhân bị tǎng HA độ I và độ II.

2. Tác dụng phụ chủ yếu gây khó chịu cho bệnh nhân là ho khan. Tác dụng này có liên quan đến liều lượng của thuốc, do vậy trong trường hợp chưa hạ HA được đến mức mong muốn thì nên phối hợp với 1 thuốc khác để tránh việc phải dùng liều cao hơn.

Keywords: tác dụng phụ, hạ áp, ho khan